1. Quy định thống nhất về vị trí việc làm viên chức
Nghị định số 232/2026/NĐ-CP áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và UBND cấp xã; đồng thời áp dụng đối với viên chức theo quy định của Luật Viên chức số 129/2025/QH15.
Theo Nghị định, vị trí việc làm được xác định trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành.
Việc quản lý vị trí việc làm phải bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, dân chủ, gắn vị trí việc làm với nhiệm vụ, kết quả và sản phẩm đầu ra; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý.
2. Ba nhóm vị trí việc làm
Nghị định quy định danh mục vị trí việc làm viên chức được phân thành 3 nhóm:
Vị trí việc làm quản lý: gắn với chức vụ quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện nhiệm vụ tổ chức, điều hành, phân công, kiểm soát và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị hoặc bộ phận được giao phụ trách.
Vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ: trực tiếp thực hiện hoạt động chuyên môn cốt lõi gắn với chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị, tạo ra sản phẩm chuyên môn của ngành, lĩnh vực.
Vị trí việc làm hỗ trợ: thực hiện các hoạt động phục vụ, bảo đảm điều kiện cho hoạt động của đơn vị, tạo ra dịch vụ nội bộ hoặc điều kiện vận hành chung.
Việc xác định và sử dụng vị trí việc làm phải tuân thủ danh mục do Chính phủ ban hành; không làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục, không tự ý thay đổi tên gọi, chia, tách hoặc gộp vị trí việc làm.
3. Vị trí việc làm được xác định theo 5 bậc nghề nghiệp
Một điểm mới đáng chú ý là Nghị định quy định 05 bậc nghề nghiệp, từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là thấp nhất và bậc 5 là cao nhất.
Đơn vị sự nghiệp công lập căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển để xác định số bậc nghề nghiệp áp dụng đối với từng vị trí, nhưng không vượt quá số bậc được quy định trong danh mục vị trí việc làm.
Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp phù hợp với năng lực và yêu cầu nhiệm vụ. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp không làm thay đổi vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhiệm.
Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới, Nghị định quy định việc áp dụng bảng lương hiện hành tương ứng với các bậc nghề nghiệp từ bậc 1 đến bậc 5.
4. Mỗi vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực
Nghị định yêu cầu mỗi vị trí việc làm phải xây dựng 01 bản mô tả công việc và khung năng lực.
Nội dung chủ yếu gồm: thông tin chung về vị trí; mục tiêu; công việc và sản phẩm đầu ra có thể đo lường được; khung năng lực tương ứng với từng bậc nghề nghiệp; mối quan hệ công tác; phạm vi, quyền hạn; yêu cầu về trình độ, kinh nghiệm, phẩm chất và các tiêu chuẩn chuyên môn, nghề nghiệp, điều kiện hành nghề nếu có.
Đối với vị trí việc làm quản lý, bản mô tả phải xác định rõ nội dung công việc quản lý, sản phẩm đầu ra và năng lực quản lý.
5. Quy định về tỷ lệ viên chức theo từng bậc nghề nghiệp
Nghị định quy định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp nhằm bảo đảm cơ cấu đội ngũ phù hợp.
Đối với vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 5, tỷ lệ viên chức ở bậc 5 không vượt quá 30% tổng số biên chế được giao cho vị trí đó; bậc thấp hơn gần nhất với bậc 5 không vượt quá 40%.
Đối với vị trí có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4, tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40%. Trường hợp vị trí chỉ xác định 2 bậc nghề nghiệp, tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50%.
Một số đơn vị sự nghiệp công lập có mức độ tự chủ tài chính theo quy định được quyết định tỷ lệ bố trí viên chức theo bậc nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị.
6. Tăng cường trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập
Theo Nghị định, đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm lựa chọn vị trí việc làm cụ thể; lựa chọn bậc nghề nghiệp sử dụng; xây dựng bản mô tả công việc, khung năng lực và xác định tỷ lệ viên chức bố trí theo từng bậc.
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện tự quyết định vị trí việc làm theo quy định, đơn vị được chủ động quyết định trong phạm vi quản lý. Đối với các đơn vị còn lại, Bộ hoặc UBND cấp tỉnh thực hiện phê duyệt hoặc phân cấp, ủy quyền theo quy định.
Nghị định số 232/2026/NĐ-CP là cơ sở quan trọng để chuẩn hóa hệ thống vị trí việc làm viên chức, gắn vị trí việc làm với chức năng, nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và năng lực của viên chức; qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đội ngũ viên chức và đẩy mạnh đổi mới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
Tác giả: Hoàng Ngọc Sơn
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
LỄ CÔNG BỐ VÀ TRAO QUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆM PHÓ GIÁM ĐỐC QUỸ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIÊN RỪNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Tăng cường kiểm tra, giám sát chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
ĐÀ NẴNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỘNG ĐỒNG, ĐẨY MẠNH QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG BỀN VỮNG
Chi trả dịch vụ môi trường rừng – Động lực thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tại thành phố Đà Nẵng trong 6 tháng đầu năm 2026
Đà Nẵng đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật lâm nghiệp đến từng thôn, bản
Đồng hành cùng học sinh Miền núi trong năm học mới
Triển khai ngay các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng
Đà Nẵng chia sẻ kinh nghiệm trong thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng: Gieo sinh kế, giữ màu xanh