Bảo đảm xử lý kỷ luật khách quan, công bằng, đúng quy định
Theo Nghị định số 234/2026/NĐ-CP, việc xử lý kỷ luật viên chức phải bảo đảm các nguyên tắc khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh, chính xác, kịp thời và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục.
Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trường hợp tại cùng một thời điểm, viên chức có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận đối với từng hành vi và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất.
Khi xem xét xử lý kỷ luật, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; thái độ tiếp thu, sửa chữa và kết quả khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả.
Nghị định nghiêm cấm các hành vi xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự, nhân phẩm của viên chức trong quá trình xử lý kỷ luật.
Quy định các trường hợp chưa xem xét, loại trừ hoặc miễn trách nhiệm kỷ luật
Nghị định quy định cụ thể các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật, trong đó có viên chức đang điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc bị ốm nặng đang điều trị nội trú; viên chức nữ đang mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi; viên chức nam đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi trong một số trường hợp theo quy định; viên chức đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, viên chức được loại trừ trách nhiệm kỷ luật trong trường hợp được cơ quan có thẩm quyền xác nhận mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm hoặc vi phạm trong tình thế cấp thiết, do bất khả kháng, trở ngại khách quan theo quy định.
Một số trường hợp cũng được miễn trách nhiệm kỷ luật, như thực hiện đề xuất về nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đã được cấp có thẩm quyền cho phép, thực hiện đúng chủ trương, không vụ lợi, không cố ý vi phạm pháp luật nhưng có thiệt hại xảy ra; hoặc thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, không vụ lợi nhưng gây thiệt hại do nguyên nhân khách quan.
Bốn hình thức kỷ luật đối với viên chức
Nghị định quy định các hình thức kỷ luật đối với viên chức gồm:
Khiển trách;
Cảnh cáo;
Cách chức, áp dụng đối với viên chức quản lý;
Buộc thôi việc.
Việc áp dụng từng hình thức kỷ luật được quy định cụ thể căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm và các tình tiết liên quan.
Hình thức khiển trách được áp dụng đối với một số hành vi vi phạm lần đầu, có tính chất và mức độ theo quy định. Hình thức cảnh cáo được áp dụng đối với trường hợp tái phạm hoặc một số hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng. Đối với viên chức quản lý, hình thức cách chức được áp dụng trong các trường hợp được Nghị định quy định. Hình thức buộc thôi việc áp dụng đối với những hành vi vi phạm thuộc trường hợp phải xử lý ở mức cao nhất theo quy định của Nghị định.
Thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật
Nghị định quy định thời hiệu xử lý kỷ luật thực hiện theo Luật Viên chức. Theo đó, thời hiệu thông thường là 05 năm đối với hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách và 10 năm đối với hành vi vi phạm không thuộc trường hợp áp dụng thời hiệu 05 năm.
Một số hành vi vi phạm không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật theo quy định của Nghị định.
Thời hạn xử lý kỷ luật được quy định không quá 90 ngày kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm; trường hợp vụ việc có tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra, xác minh thì thời hạn có thể được kéo dài theo quy định nhưng phải bảo đảm thời gian xử lý trong giới hạn pháp luật cho phép.
Quy định về trình tự, thẩm quyền xử lý kỷ luật
Việc xử lý kỷ luật viên chức được thực hiện theo các bước cơ bản gồm: tổ chức họp kiểm điểm; thành lập Hội đồng kỷ luật; cấp có thẩm quyền xem xét, ra quyết định xử lý kỷ luật.
Đối với một số trường hợp đã có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm hoặc viên chức đã bị Tòa án kết án theo quy định, Nghị định quy định không thực hiện một số bước trong quy trình.
Thẩm quyền xử lý kỷ luật được phân định theo chức vụ quản lý, vị trí công tác và trường hợp cụ thể. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền chịu trách nhiệm xem xét, quyết định xử lý kỷ luật theo quy định.
Một số quy định cần lưu ý
Quyết định xử lý kỷ luật viên chức có hiệu lực 12 tháng kể từ ngày có hiệu lực thi hành. Nếu trong thời gian này viên chức không tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực.
Trường hợp viên chức có hành vi vi phạm trong thời gian công tác tại cơ quan, đơn vị cũ nhưng sau đó chuyển sang đơn vị mới mới phát hiện hành vi vi phạm và vẫn còn thời hiệu xử lý thì cơ quan, đơn vị mới có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định; cơ quan, đơn vị cũ có trách nhiệm phối hợp, cung cấp hồ sơ liên quan.
Đáng chú ý, trường hợp viên chức đã bị xử lý kỷ luật đảng thì việc xử lý kỷ luật hành chính phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật đảng, bảo đảm hình thức kỷ luật hành chính tương xứng với hình thức kỷ luật đảng theo quy định.
Hiệu lực thi hành
Nghị định số 234/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Kể từ thời điểm này, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP và các quy định liên quan thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định mới, hết hiệu lực theo quy định.
Đối với các hành vi vi phạm đang trong quá trình xem xét, xử lý trước ngày Nghị định số 234/2026/NĐ-CP có hiệu lực thì tiếp tục áp dụng quy định trước đây. Đối với hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định có hiệu lực nhưng được xem xét, xử lý sau ngày Nghị định có hiệu lực thì áp dụng quy định của Nghị định số 234/2026/NĐ-CP, trừ trường hợp pháp luật tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm có quy định có lợi hơn cho viên chức.
Việc ban hành Nghị định số 234/2026/NĐ-CP góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về xử lý kỷ luật viên chức, bảo đảm việc xem xét, xử lý vi phạm được thực hiện thống nhất, đúng thẩm quyền, khách quan, công bằng và phù hợp với yêu cầu quản lý viên chức trong tình hình mới.
Tác giả: Hoàng Ngọc Sơn
Những tin cũ hơn
LỄ CÔNG BỐ VÀ TRAO QUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆM PHÓ GIÁM ĐỐC QUỸ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIÊN RỪNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
ĐÀ NẴNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỘNG ĐỒNG, ĐẨY MẠNH QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG BỀN VỮNG
Tăng cường kiểm tra, giám sát chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chi trả dịch vụ môi trường rừng – Động lực thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tại thành phố Đà Nẵng trong 6 tháng đầu năm 2026
Đà Nẵng đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật lâm nghiệp đến từng thôn, bản
Đồng hành cùng học sinh Miền núi trong năm học mới
Triển khai ngay các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng
Đà Nẵng chia sẻ kinh nghiệm trong thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng: Gieo sinh kế, giữ màu xanh