Khơi dậy giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng
Rừng không chỉ có ý nghĩa trong việc điều hòa khí hậu, bảo vệ nguồn nước, hạn chế xói mòn và duy trì đa dạng sinh học, mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, yêu cầu phát triển xanh và sử dụng hiệu quả tài nguyên đặt ra nhiệm vụ phải thay đổi cách nhìn về giá trị của rừng: từ khai thác lâm sản đơn thuần sang phát huy đồng thời các giá trị kinh tế, sinh thái và môi trường.
Trong tiến trình đó, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) giữ vai trò thiết thực. Chính sách góp phần tạo nguồn lực tài chính phục vụ bảo vệ rừng, đồng thời gắn quyền lợi của chủ rừng, hộ gia đình và cộng đồng với trách nhiệm duy trì, phát triển tài nguyên rừng. Khi lợi ích từ rừng được cụ thể hóa, người dân có thêm động lực gắn bó với rừng, từng bước hình thành cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa các bên thụ hưởng và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Chuyển từ khai thác ngắn hạn sang nâng cao giá trị rừng
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, Đà Nẵng có hơn 745.000 ha rừng và diện tích đã trồng cây rừng (trong đó hơn 503.000 ha rừng tự nhiên, còn lại là diện tích rừng trồng), tỷ lệ che phủ rừng đạt 58,25%. Đây là lợi thế quan trọng để thành phố phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Quản lý rừng bền vững cần sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và người trồng rừng.
Tuy nhiên, tiềm năng lớn không đồng nghĩa với giá trị kinh tế đã được khai thác tương xứng. Hiện sản lượng gỗ khai thác trên địa bàn đạt khoảng 1,9 triệu m³/năm, giá trị sản xuất hơn 3.000 tỷ đồng, nhưng trên 80% diện tích rừng trồng vẫn được khai thác theo chu kỳ 4–5 năm, chủ yếu phục vụ sản xuất dăm gỗ. Thực trạng này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm lâm nghiệp.
Một trong những hướng đi được thành phố chú trọng là phát triển rừng gỗ lớn gắn với chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC, VFCS/PEFC. Đến nay, diện tích rừng được cấp các chứng nhận này đạt hơn 33.000 ha, với trên 6.500 hộ dân cùng nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển ít nhất 45.000 ha rừng gỗ lớn, từng bước nâng tỷ lệ gỗ đưa vào chế biến sâu.
Thực tiễn tại xã Hiệp Đức cho thấy hiệu quả của việc liên kết sản xuất. Từ 239 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC với 54 hộ tham gia năm 2017, Hợp tác xã Nông nghiệp Hiệp Thuận đã phát triển diện tích lên 1.558,33 ha, với 273 hộ. Hợp tác xã hỗ trợ vốn, cây giống, kỹ thuật, đánh giá chứng chỉ và liên kết tiêu thụ; sản phẩm sau khai thác được thu mua với giá cao hơn thị trường từ 5–7%.
Kết quả này cho thấy chứng chỉ rừng không chỉ là yêu cầu về tiêu chuẩn sản xuất mà còn có thể tạo lợi ích kinh tế trực tiếp cho người trồng rừng. Dù vậy, việc kéo dài chu kỳ kinh doanh vẫn gặp khó khăn do thiếu vốn đầu tư, rủi ro thiên tai, biến động giá cả và hạn chế về nguồn giống chất lượng. Vì thế, để người dân mạnh dạn chuyển đổi, cần có các giải pháp đồng bộ về tín dụng, kỹ thuật, bảo hiểm rừng và liên kết tiêu thụ ổn định.
Theo ông Trần Út, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, việc chuyển đổi từ rừng trồng gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn như keo, bạch đàn sang rừng gỗ lớn không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế, mà còn góp phần ổn định độ che phủ rừng và cải thiện môi trường sinh thái.
“Với chu kỳ sản xuất dài hơn, rừng gỗ lớn có khả năng tạo ra sản phẩm gỗ có giá trị cao, đáp ứng yêu cầu của ngành chế biến gỗ, trong đó có thị trường xuất khẩu. Việc phát triển nguồn nguyên liệu gỗ lớn cũng tạo điều kiện để nâng cao giá trị sản phẩm lâm nghiệp, từng bước hình thành chuỗi sản xuất, chế biến có giá trị gia tăng cao hơn”, ông Út phân tích.
Mở hướng phát triển tín chỉ carbon rừng

Bảo vệ và phục hồi rừng là nền tảng để nghiên cứu phát triển tín chỉ carbon rừng. Ảnh minh họa.
Bên cạnh giá trị gỗ và DVMTR, tín chỉ carbon rừng được kỳ vọng mở thêm hướng tạo nguồn thu từ khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon của hệ sinh thái rừng. Đà Nẵng đang đầu tư hơn 34,2 tỷ đồng để điều tra hiện trạng rừng trên toàn địa bàn, đồng thời đánh giá trữ lượng carbon; kết quả dự kiến hoàn thành, phê duyệt và công bố trong năm 2026.
Thành phố cũng triển khai Dự án phục hồi rừng và phát triển sinh kế giai đoạn 1, với tổng kinh phí viện trợ 155,7 tỷ đồng, thực hiện đến cuối năm 2030; trong đó bố trí 1.422 ha để trồng, tái trồng và phục hồi rừng.
Những bước đi này cho thấy định hướng chuyển từ khai thác giá trị hữu hình của rừng sang phát huy tổng thể các giá trị môi trường. Tuy nhiên, tiềm năng lớn không đồng nghĩa với việc có thể hình thành tín chỉ carbon ngay lập tức. Quá trình này đòi hỏi dữ liệu đáng tin cậy, phương pháp đo đếm và xác minh phù hợp, cơ sở pháp lý rõ ràng, cũng như cơ chế xác định quyền và phân chia lợi ích minh bạch giữa Nhà nước, chủ rừng và cộng đồng.
Phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát triển rừng
Phát huy vai trò cộng đồng giúp đưa chính sách bảo vệ rừng đến gần hơn với đời sống người dân.
Một chính sách lâm nghiệp bền vững không thể chỉ dựa vào nguồn lực tài chính hay hoạt động quản lý của cơ quan chức năng, mà cần sự tham gia chủ động của người dân. Các hoạt động tuyên truyền pháp luật lâm nghiệp do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng thành phố phối hợp với lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương triển khai tại nhiều xã thuộc vùng chi trả DVMTR là minh chứng cho cách tiếp cận này.
Nội dung tuyên truyền tập trung vào phòng cháy, chữa cháy rừng; ngăn chặn lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép, săn bắt động vật hoang dã và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Việc kết hợp tuyên truyền lưu động với trao đổi trực tiếp giúp người dân hiểu rõ hơn quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong bảo vệ tài nguyên rừng.
Từ thực tiễn trên, yêu cầu đặt ra là phải gắn chính sách DVMTR với nâng cao năng lực quản lý rừng cộng đồng, tăng cường giám sát và hỗ trợ sinh kế phù hợp. Khi người dân có thu nhập ổn định hơn từ rừng và được tham gia vào quá trình quản lý, bảo vệ tài nguyên, chính sách sẽ có nền tảng xã hội vững chắc hơn.
Theo ông Hoàng Ngọc Sơn, Trưởng phòng Kiểm tra – Giám sát, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng thành phố Đà Nẵng “…bảo vệ rừng không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Quan điểm này cũng nhấn mạnh vai trò của người dân trong việc chấp hành pháp luật, chủ động tham gia giữ rừng và phối hợp với lực lượng chức năng tại địa phương”.
Hướng tới nền kinh tế lâm nghiệp xanh, bền vững
Từ chi trả DVMTR đến phát triển rừng gỗ lớn, chứng chỉ FSC và nghiên cứu tín chỉ carbon, Đà Nẵng đang từng bước hình thành cách tiếp cận đa giá trị đối với tài nguyên rừng. Để những định hướng này phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng cao chất lượng dữ liệu, thúc đẩy liên kết sản xuất và bảo đảm lợi ích hài hòa giữa các chủ thể.
Đối với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng thành phố, nhiệm vụ không chỉ dừng ở tổ chức thực hiện chính sách chi trả, mà còn gắn với tuyên truyền, hướng dẫn chủ rừng, giám sát việc thực hiện chính sách và phối hợp nâng cao nhận thức cộng đồng. Đây là những mắt xích quan trọng giúp nguồn lực tài chính từ DVMTR đóng góp thiết thực hơn cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Giữ rừng hôm nay không chỉ là bảo vệ một nguồn tài nguyên, mà còn là đầu tư cho tương lai của cộng đồng và nền kinh tế xanh. Khi giá trị môi trường được ghi nhận, người giữ rừng được hưởng lợi chính đáng và các mô hình sản xuất bền vững được nhân rộng, rừng sẽ thực sự trở thành nguồn lực cho phát triển lâu dài của thành phố Đà Nẵng.
Tác giả: Lê Minh Phúc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
LỄ CÔNG BỐ VÀ TRAO QUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆM PHÓ GIÁM ĐỐC QUỸ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIÊN RỪNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
ĐÀ NẴNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỘNG ĐỒNG, ĐẨY MẠNH QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG BỀN VỮNG
Tăng cường kiểm tra, giám sát chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
ĐÀ NẴNG: Hỗ trợ hơn 93.000 cây quế trà my, gắn phát triển sinh kế với bảo vệ rừng
Chi trả dịch vụ môi trường rừng – Động lực thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tại thành phố Đà Nẵng trong 6 tháng đầu năm 2026
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng: Gieo sinh kế, giữ màu xanh
Đồng hành cùng học sinh Miền núi trong năm học mới
Đà Nẵng đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật lâm nghiệp đến từng thôn, bản
Triển khai ngay các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng