Đánh giá theo kết quả, sản phẩm và nhiệm vụ cụ thể
Nghị định số 233/2026/NĐ-CP quy định khung tiêu chí, nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức.
Một trong những điểm đáng chú ý là việc đánh giá được thực hiện theo hướng dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, khách quan, đúng thẩm quyền, đồng thời bảo đảm tính xuyên suốt, liên tục và đa chiều. Kết quả đánh giá phải được thể hiện thông qua các tiêu chí cụ thể và sản phẩm, công việc thực tế.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, khung tiêu chí đánh giá được xây dựng trên thang điểm 100, trong đó 30 điểm dành cho các tiêu chí chung và 70 điểm dành cho kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Nhóm tiêu chí chung tập trung vào việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện chỉ đạo, điều hành của cấp trên; xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển của đơn vị; hiệu quả quản lý tổ chức bộ máy, viên chức; xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch; cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Nhóm tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ chú trọng mức độ hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao; chất lượng sản phẩm, dịch vụ; mức độ hài lòng của đối tượng thụ hưởng; hiệu quả sử dụng ngân sách, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực; kết quả đổi mới, cải tiến quy trình chuyên môn, nghiệp vụ.
Quy định cụ thể các mức xếp loại đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Theo Nghị định, đơn vị sự nghiệp công lập được xếp loại theo 4 mức: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; Hoàn thành tốt nhiệm vụ; Hoàn thành nhiệm vụ; Không hoàn thành nhiệm vụ.
Đơn vị được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” khi đạt từ 90 điểm trở lên và đồng thời đáp ứng các điều kiện theo quy định, trong đó phải hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và có ít nhất 30% nhiệm vụ hoàn thành vượt mức yêu cầu.
Mức “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” áp dụng đối với đơn vị đạt từ 70 đến dưới 90 điểm và hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng, hiệu quả.
Mức “Hoàn thành nhiệm vụ” áp dụng đối với đơn vị đạt từ 50 đến dưới 70 điểm, đồng thời hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao; số nhiệm vụ chưa bảo đảm tiến độ không vượt quá 20%.
Đơn vị có tổng điểm dưới 50 điểm hoặc thuộc các trường hợp được quy định tại Nghị định thì xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ”.
Nghị định cũng quy định tỷ lệ đơn vị sự nghiệp công lập được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” thông thường không vượt quá 20% tổng số đơn vị được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”; trường hợp có thành tích xuất sắc, nổi trội, cấp có thẩm quyền có thể quyết định tỷ lệ cao hơn nhưng không vượt quá 25%.
Đánh giá viên chức thường xuyên, gắn với vị trí việc làm
Đối với viên chức, Nghị định tiếp tục áp dụng thang điểm 100, trong đó 30 điểm là khung tiêu chí chung và 70 điểm là kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý, việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ tập trung vào số lượng, chất lượng và tiến độ thực hiện sản phẩm, công việc được phân công, phù hợp với vị trí việc làm và hoạt động nghề nghiệp.
Đối với viên chức giữ chức vụ quản lý, ngoài các tiêu chí về số lượng, chất lượng và tiến độ còn đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị hoặc lĩnh vực được giao quản lý; khả năng tổ chức triển khai nhiệm vụ; năng lực tập hợp, đoàn kết viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý.
Một điểm mới đáng lưu ý là kết quả theo dõi, đánh giá viên chức được thực hiện hằng tháng hoặc hằng quý, làm cơ sở để xếp loại chất lượng hằng năm. Cách tiếp cận này giúp việc đánh giá gắn sát hơn với quá trình thực hiện nhiệm vụ thay vì chỉ tập trung vào thời điểm cuối năm.
Viên chức được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” khi đạt từ 90 điểm trở lên; “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” từ 70 đến dưới 90 điểm; “Hoàn thành nhiệm vụ” từ 50 đến dưới 70 điểm. Trường hợp dưới 50 điểm hoặc thuộc các trường hợp được quy định tại Nghị định thì xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ”.
Nghị định cũng quy định tỷ lệ viên chức được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” thông thường không quá 20% tổng số viên chức được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trong cùng cơ quan, đơn vị và từng nhóm viên chức có nhiệm vụ tương đồng; trường hợp đặc biệt có thể cao hơn nhưng không vượt quá 25% theo quy định.
Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu
Nghị định số 233/2026/NĐ-CP nhấn mạnh việc phân cấp, phân quyền và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong xây dựng kế hoạch công tác, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, sản phẩm đối với viên chức.
Người đứng đầu đơn vị trực tiếp sử dụng viên chức có trách nhiệm phân công, giao nhiệm vụ với yêu cầu cụ thể về số lượng, chất lượng và tiến độ, phù hợp với vị trí việc làm. Đây là cơ sở để theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ một cách rõ ràng và có căn cứ.
Đáng chú ý, mức xếp loại chất lượng của người đứng đầu không cao hơn mức xếp loại chất lượng của đơn vị.
Kết quả đánh giá, xếp loại cũng phải được kiểm tra, giám sát, phản ánh đúng thực chất mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Trường hợp phát hiện sai sót, vi phạm, thiếu trung thực hoặc việc xếp loại không bảo đảm quy định, kết quả có thể bị hủy bỏ và thực hiện đánh giá, xếp loại lại theo quy định.
Đơn vị phải ban hành Quy chế đánh giá trước ngày 30/11/2026
Để triển khai Nghị định, các đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm chậm nhất đến ngày 30/11/2026 ban hành Quy chế đánh giá của đơn vị.
Quy chế phải quy định những nội dung cơ bản gồm: phạm vi, đối tượng; nguyên tắc; tiêu chí đánh giá; thang điểm; việc theo dõi, đánh giá thường xuyên; trình tự, thủ tục đánh giá, xếp loại; việc sử dụng kết quả đánh giá, xếp loại.
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ hằng năm được cấp có thẩm quyền giao, đơn vị phải xác định mục tiêu, nhiệm vụ đối với các đơn vị cấu thành và nhiệm vụ, sản phẩm, công việc của viên chức theo vị trí việc làm làm căn cứ theo dõi, đánh giá, xếp loại.
Nghị định đồng thời yêu cầu triển khai việc theo dõi, đánh giá viên chức theo tháng hoặc theo quý; ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm phục vụ theo dõi, đánh giá và cập nhật, đồng bộ kết quả vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức chậm nhất 05 ngày sau khi có kết quả.
Thời điểm đánh giá hằng năm
Việc đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo năm công tác và thông thường hoàn thành trước ngày 15/12 hằng năm; trường hợp đặc biệt theo quy định của cấp có thẩm quyền thì hoàn thành trước ngày 15/01 năm sau.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập mới thành lập hoặc tổ chức lại, Nghị định cũng quy định cách thức đánh giá trên cơ sở kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ tương ứng với thời gian hoạt động trước và sau thời điểm thành lập, tổ chức lại.
Nghị định số 233/2026/NĐ-CP là cơ sở quan trọng để các đơn vị sự nghiệp công lập đổi mới công tác đánh giá theo hướng lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm và hiệu quả công việc làm trọng tâm, đồng thời tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu, bảo đảm việc đánh giá ngày càng công khai, minh bạch, thực chất và gắn với yêu cầu quản lý, sử dụng viên chức.
Tác giả: Hoàng Ngọc Sơn
Những tin cũ hơn
LỄ CÔNG BỐ VÀ TRAO QUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆM PHÓ GIÁM ĐỐC QUỸ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIÊN RỪNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
ĐÀ NẴNG PHÁT HUY VAI TRÒ CỘNG ĐỒNG, ĐẨY MẠNH QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG BỀN VỮNG
Tăng cường kiểm tra, giám sát chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chi trả dịch vụ môi trường rừng – Động lực thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tại thành phố Đà Nẵng trong 6 tháng đầu năm 2026
Đà Nẵng đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật lâm nghiệp đến từng thôn, bản
Đồng hành cùng học sinh Miền núi trong năm học mới
Triển khai ngay các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng
Đà Nẵng chia sẻ kinh nghiệm trong thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng: Gieo sinh kế, giữ màu xanh